FANDOM


Câu chuyện về Đức Phật Thích Ca chính là điểm khởi đầu cho hành trình đi tìm Thế giới ngoài kia của chúng ta trong chương trình đầu tiên này. Có rất nhiều dữ liệu khác nhau để nghiên cứu, nhưng tôi cho rằng phổ quát nhất và nhiều thông tin nhất là từ các ghi chép của các đồ đệ của Đức Phật về những điều ngài đã nói sau khi đến thăm những thế giới bên ngoài kia.

2500 năm về trước, Đức Phật đã ngộ đạo hay ngài đã đi thăm thế giới ngoài kia và khi trở về ngài đã cố gắng giảng dạy những hiểu biểu của mình cho thế gian, đây cũng là lúc chúng ta có những thông tin để tìm đến thế giới ngoài kia thông qua những ghi chép về lời dạy và những truyền thuyết của về Đức Phật.

Bản thân tôi thì cho rằng, Đức Phật hay nhiều vị tu hành khác, bằng cách này hay cách khác đã bước ra được thế giới ngoài kia và trở về, họ đã cố truyền đạt cho chúng ta những điều mà họ thấy, có thể nó không đầy đủ, rời rạc bởi mỗi vị chỉ đến được một nơi trong những thế giới ngoài kia mà thôi, vì thế việc thu thập các mảnh ghép để lắp ráp thành một cái nhìn về thế giới ngoài kia một cách rõ ràng sẽ là việc mà tôi sẽ làm suốt chương trình này.

Đầu tiên là câu chuyện của Đức Phật. Đức Phật là thái tử con vua của một đất nước cổ đại trong lịch sử Ấn Độ, cuộc đời của ngài đã được một vị tiên tri tiết lộ cho nhà vua. Nhưng nhà vua đã cố gắng để tách Hoàng Tử ra khỏi những sự kiện, sự vật có thể gây nên sự giác ngộ của hoàng tử. Nhưng nhà vua đã không thành công, hoàng tử cuối cùng đã xin được rời khỏi hoàng cung để đi tìm chân lý của Lão, Bệnh và Tử.

Truyền thuyết kể rằng,  sau khi rời khỏi cung điện, hoàng tử Tất Đạt Đa đi đến Vương Xá Thành, kinh đô của nước Ma Kiệt Đà thời Ấn Độ cổ, nơi người gặp một số vị sư đang thiền định trong các hang động trên núi. Hoàng tử trở thành đồ đệ của nhà tu hành A La La Ca Lam (Alara Klama), và được dạy cho cách tu luyện. Sau một thời gian tu luyện, hoàng tử không thấy tiến bộ hơn nữa nên theo học một nhà tu ẩn dật tên là Ưu Đà La La Ma Tử (Uddaka Ramaputta).

Tuy nhiên, sau một thời gian, người lại nhận ra rằng không thể tiến bộ thêm nữa. Do đó, Tất Đạt Đa tham gia cùng với năm nhà tu hành ở trong rừng Benares để tu luyện bằng cách hành xác, ăn cực ít và trải nghiệm sự khắc khổ. Từ đó trở đi, người ta bắt đầu gọi hoàng tử Tất Đạt Đa dưới cái tên Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni), nghĩa là “nhà hiền triết của dòng họ Thích Ca”. Sau khi tu luyện như vậy được sáu năm, Thích Ca Mâu Ni phát hiện ra rằng ông chưa đạt được sự giác ngộ nhưng thân thể thường nhân của ông đã trở nên vô cùng suy kiệt.

Vào một ngày khi ông đang thiền định, ông bất chợt nghe thấy cuộc trò chuyện giữa hai nhạc công trên một con thuyền. Người nhạc công dày dạn kinh nghiệm nói với người tập việc rằng các sợi dây của đàn nguyệt không nên quá căng hoặc quá chùng. Nếu dây được kéo quá căng, chúng sẽ đứt; và nếu được kéo quá trùng, âm thanh phát ra sẽ không đúng nữa.

Ngay khi nghe được điều này, Thích Ca Mâu Ni chợt giác ngộ ra được đạo lý trung dung (đi đường giữa) và không đi sang phía cực đoan; sau đó ông rời đi để tản bộ. Ý này cho rằng việc hành xác thực ra không đem lại được sự tu tập thiền định và không phải là con đường đúng đắn để đến được Thế giới ngoài kia, vậy những môn phái tu hành theo hướng hành xác liệu có nên loại khỏi vòng nghiên cứu hay không? Câu hỏi này sẽ tiếp tục được kiểm chứng khi có thêm tài liệu.

Tiếp về chuyện của Đức Phật. Trên đường đi, ông gặp một cô thôn nữ tên là Sujata, và cô tỏ ý muốn bố thí bánh gạo cho Thích Ca Mâu Ni; vốn giờ đã quá suy kiệt. Truyền thuyết kể lại rằng thân thể của Thích Ca Mâu Ni đã trở về bình thường ngay sau khi ăn nó. Có phải từ chi tiết này nên một số môn phái đạo Phật chỉ đi khất thực mà không tự nuôi sống bản thân bằng lao động. Có chăng người viết truyền thuyết này chỉ ngụ ý rằng, có thực mới vực được đạo, để củng cố cho đạo lý trung dung ở trên, tức là thân xác ở thế giới này không thể tách khỏi những quy luật tự nhiên của thế giới này. Chúng ta cần hiểu rõ quy luật của thế giới này trước khi bước sang thế giới khác?

Sau đó ông đã ngồi dưới cội Bồ Đề trong rừng Urvela và nguyện sẽ không ra khỏi trạng thái thiền định nếu không đạt được sự giác ngộ. Ông đã đối mặt với sự can nhiễu từ một con quỷ tên là Mara, nó dùng trăm mưu nghìn kế để quấy nhiễu ông nhưng không thể nào xoay chuyển được ý chí kiên định của Thích Ca Mâu Ni. Khi chứng kiến việc Thích Ca Mâu Ni đột phá khỏi sự kiềm tỏa của ham muốn và ràng buộc, Mara trở nên cực kỳ phẫn nộ và nó gửi hàng tá ma quỷ có vũ khí đến để tấn công Thích Ca Mâu Ni, nhưng Ngài vẫn giữ nguyên trạng thái bất động. Đoạn này ta có thể thấy rằng người viết truyền thuyết có sự cách điệu, liệu có phải là con quỷ từ bên ngoài hay chính từ trong tâm trí rối loạn mà ra? Rồi việc ma quỷ có vũ khí tấn công, nếu vậy Đức Phật e khó toàn mạng. Có lẽ truyền thuyết chỉ cách điệu hóa sự khó khăn của việc thiền định chăng, nhưng sự khó khăn này thực sự là gì và đến từ đâu, có lẽ cần nghiên cứu sâu hơn.

Sau khi Mara bị đánh bại và nhận ra rằng nó sẽ không tài nào can nhiễu được đến định lực phi phàm của Thích Ca Mâu Ni, Mara đã mỉa mai ông và nói rằng mặc dù ông đã chiến thắng, nhưng sẽ không có ai chứng kiến được điều này.  Thích Ca Mâu Ni chạm tay xuống mặt đất, ám chỉ rằng đất sẽ là vật chứng kiến. Mặt đất bất giác rung chuyển như để đáp lại rằng nó sẽ chứng kiến cho sự vinh diệu của Thích Ca Mâu Ni. Từ khoảnh khắc đó, Thích Ca Mâu Ni tiếp tục quá trình thiền định của ông và cuối cùng đã đạt được sự giác ngộ, trí huệ của ông đã được khai mở, và ông đã đạt đến cảnh giới của Phật sau 49 ngày thiền định dưới cội bồ đề.

Chi tiết này thực ra tôi lại hiểu rằng đó là một câu chuyện ẩn ý, ý nói rằng việc tu tập hay tu luyện là một việc khó khăn mà kết quả thì ta chưa biết được, vì vậy việc tu tập không xuất phát từ sự mong muốn tìm đến chân lý của bản thân thì mọi sự tu luyện chỉ là giả vờ. Vậy có phải chăng để đi ra thế giới ngoài kia, sẽ là việc của mỗi cá nhân tự làm chứ không thể nhờ ai được, không thể có nhà khoa học nào phát minh ra một cỗ máy giúp chúng ta đi ra thế giới ngoài kia rồi đi về như đi chợ được.

Như vậy có chăng việc đi ra thế giới ngoài kia của từng người sẽ là câu chuyện riêng của người đó, ta không thể biết được câu chuyện họ kể sẽ là thế giới ngoài kia thực sự hay chỉ là một câu chuyện tưởng tượng. Bởi vậy việc thu thập càng nhiều chứng cứ càng tốt là điều rất quan trọng.

Qua trở lại chuyện của Đức Phật. Ngay sau khi chứng đắc quả vị Phật, ông bắt đầu sứ mệnh tiền định của mình là truyền rộng Phật Pháp, cứu độ chúng sinh. Thích Ca Mâu Ni đã giảng bài Pháp đầu tiên cho những người đồng tu trước đây của ông, năm nhà tu hành ở Benares. Dần dần, số lượng các đồ đệ của ông đã tăng lên đến con số 80.000.

Khi vua Tịnh Phạn biết được rằng con trai ông đã trở thành một vị Phật, ông đã cho mời Thích Ca Mâu Ni vào cung và quở trách việc ông đã đi xin ăn trong khi ông giàu đến nỗi có thể nuôi hàng nghìn tín đồ. Thích Ca Mâu Ni giải thích cho cha rằng đó là một yêu cầu của hệ thống tu luyện của ông. Trong thời gian này, người em trai cùng cha khác mẹ A Nan Đà (Ananda) của Thích Ca Mâu Ni, người sẽ được phong làm hoàng thái tử và có đính ước với công chúa Tôn Đà Lị (Sundari), cũng quyết định bước chân vào con đường tu luyện và trở thành đồ đệ của Thích Ca Mâu Ni. Sau đó, con trai của Thích Ca Mâu Ni là La Hầu La và mẹ cũng đã trở thành đồ đệ của ông.

Tuy nhiên, những can nhiễu và ghen tỵ hãm hại cũng có: Đề Bà Đạt Đa (Devadutta), anh họ của Thích Ca Mâu Ni, đã cố gắng sát hại ông rất nhiều lần vì lòng ghen tỵ, nhưng Đức Phật đều tha thứ cho ông với lòng từ bi của mình. Tướng cướp Vô Não (Ương Quật Ma La – Angulimal) cũng đã cố gắng sát hại ông nhưng cuối cùng lòng từ bi của ông đã hóa giải tất cả và khiến tướng cướp quy phục và cũng trở thành đồ đệ của ông.

Để hiểu về tư tưởng và những điều Đức Phật đã nhìn thấy khi bước sang thế giới bên kia, việc nghiên cứu những lời giảng của Đức Phật có lẽ là quan trọng nhất. Tuy vậy, ngay cả những lời phật giảng cũng đã bị tam sao thất bản do chính bản thân Đức Phật không muốn ghi chép lại những lời giảng của chính Ngài.

Truyền thuyết kể rằng, ba tháng sau khi Đức Phật nhập diệt, ngài Đại Ca-diếp (Mahā Kassapa) triệu tập một hội đồng gồm khoảng 500 vị thánh tăng tại vùng đồi núi ngoại thành Vương xá (Rājagaha) để kết tập kinh điển, sau này được gọi là Đại hội Kết tập I. "Kết tập" có nghĩa là thu góp, tập hợp lại, ôn lại, đừng để cho tán thất. Tuy nhiên sự thất lạc do lịch sử nhiều lần diễn ra vì vậy việc kết tập phải thực hiện 3 lần, một số tài liệu nêu là 6 lần mới coi là cơ bản hoàn thiện. Tuy nhiên sau đó Phật giáo tiếp tục chia rẽ thành nhiều phái khác nhau. Để tiện nghiên cứu, tôi tập trung nghiên cứu đối với những tài liệu được người đời nay coi là Phật giáo nguyên thủy.

Theravada (đọc như là tê-rê-va-đa), Học thuyết cuả các Trưởng lão, là một trường phái Phật giáo tiếp nhận giáo lý kinh điển từ Tipitaka, hay là kho tàng Thánh Điển Pali, mà theo như các học giả thường đồng ý với nhau rằng còn lưu lại được những ghi chép các giaó lý ban đầu cuả Đức Phật còn tồn tại với thời gian.

Suốt một đêm đọc các kinh điển của Phật giáo nguyên thủy, thực sự tôi cảm thấy bế tắc vì có quá nhiều chỗ được dịch một cách khá khó hiểu, chưa kể việc thuyết giảng của Đức Phật chủ yếu là về Đạo, mà đại khái là làm thế nào để con người ta tiêu tan hết những sự vẩn đục trong suy nghĩ từ đó có được một trạng thái tâm lý thanh thản. Rất ít hoặc tôi chưa đọc được một ví dụ nào nhắc đến những trải nghiệm mà Đức Phật đã nhìn thấy ở thế giới ngoài kia. Hoặc là tôi nghiên cứu chưa đủ sâu chăng. Có lẽ nên đọc thêm những giải đoán của các nhà nghiên cứu khác.

Tôi đã thu thập được một vài tư liệu tuy không nhiều nhưng mỗi điều cũng có những khai mở trong câu chuyện nghiên cứu này chăng?

Khi Phật trông thấy các Tỳ-kheo dùng gáo múc nước sạch trong chum, Ngài dạy: “Các ông phải niệm chú trước khi uống nước ấy, vì trong nước đó có nhiều sinh vật rất nhỏ bé”. Ngài dạy: “Mỗi lần uống nước đều nên đọc câu chú ấy ba lần để chúng-sanh nhỏ bé ấy được siêu thoát. Cũng có một số phần trong kinh phật được các nhà nghiên cứu chú giải là Đức Phật ám chỉ việc ghi âm và ghi hình nhưng bản thân tôi thấy không thỏa đáng. Nhưng cũng có những điều đáng lưu ý - Đức Phật dạy:  “Nếu lấy một vật chia chẻ mãi tới còn bằng đầu sợi tóc, gọi là mao trần. Lấy hạt bụi bằng mao trần này chia chẻ còn bằng hạt bụi bay trong hư không, gọi là khích du trần. Hạt bụi bay lại chia chẻ nữa thành vi trần nhỏ, rồi hạt vi trần nhỏ này lại chia ra nữa cho tới khi không còn chia được nữa, gọi là cực vi trần, lân hư trần”.  Ngài dạy tiếp: “Không bao giờ tìm cầu được thực tại cuối cùng của vật, vì những vật mà ta thấy chỉ là tổng tướng ảnh tượng được kết hợp bởi vô vàn vô số những cực vi, nó xuất hiện trong biên giới giữa vật và tâm, nó hiện diện khắp nơi; hư không, không phải là không có gì, mà trong đó có đủ loại quang minh cùng các loại chúng-sanh cư ngụ. Có lẽ đây chính là điều mà hiểu biết của Đức Phật đã vượt xa trí tuệ của loài người. Có lẽ chính ngài cũng không thể mô tả một cách đúng đắn nhất về điều ngài hiểu và những kinh điển ghi chép lại của chúng ta cũng tam sao thất bản đi nhiều.

Nhà bác học vật lý nổi tiếng Albert Einstein (1879-1955) người gốc Đức nói: “Vũ trụ phân tích đến cùng chẳng còn gì là vật chất mà chỉ còn lại là những rung động hay những làn sóng mà thôi”. Đức Phật dạy:  Cấu tạo của con người và vạn vật đều do Tam Tế Tướng của A Lại Đa Thức mà thành. (A Lại Đa Thức là thức thứ tám của chúng ta, nó chứa đựng mọi kimh mghiệm của đời sống chúng ta, và nguồn gốc tất cả hiện tượng tinh thần.)  Tam tế tướng của A Lại Đa Thức gồm có Nghiệp tướng, Cảnh giới tướng và Chuyển tướng; tuy ba nhưng chỉ là một, một mà là ba, vật chất và tinh thần đều là một thể. Ở đây, chúng ta thấy có sự ăn khớp giữa lời Phật dạy và Khoa học, đó là: - Phật nói Nghiệp tướng, nhà Khoa học gọi là Năng lượng, - Phật nói Cảnh giới tướng, nhà Khoa học gọi là Vật chất, - Phật nói Chuyển tướng, nhà Khoa học gọi là Tin tức. Như vậy, chúng ta không còn nghi ngờ những lời Đức Phật đã nói, vì đã được các nhà Khoa học có cùng quan điểm như thế; tuy nhiên điều mà Đức Phật nhấn mạnh, đó là “Vật chất và tinh thần đều là một thể”, nghĩa là trong vật chất có năng lượng, trong năng lượng có vật chất và có cả tin tức nữa, tức là một mà là ba, ba mà là một, điều này nhà Khoa học vẫn chưa tìm ra. Kinh Lăng-Nghiêm, Địa-Tạng, và Hoa-Nghiêm, Phật đều dạy: “Quang minh trong hư không xoay vần bởi Phong luân, Thủy luân, Kim luân theo hình chôn ốc và khi quay chậm lại thành sơn hà đại địa và chúng-sanh”.: “Trong Tam Thiên đại Thiên thế giới này có trăm ức mặt trời mặt trăng”. Cũng có khá nhiều bằng chứng, vậy nhưng Đức Phật đã lấy được những thông tin này từ đâu, đó mới là vấn đề hóc búa. Bởi khoa học ngày nay chủ yếu chứng minh những vấn đề này thông qua những suy luận từ các bằng chứng rời rạc, mà phải sử dụng các máy móc tối tân mới có thể thực hiện được. Chưa kể những suy luận phải bắt nguồn trên nền tảng rất nhiều nghiên cứu như vậy.

Nhưng Đức Phật đã biết được tất cả những điều đó, ngài còn biết cả lịch sử của vũ trụ, cấu tạo của vũ trụ, vậy có lẽ Ngài đã hiểu hết được những luật vật lý của thế giới này. Nhưng có lẽ những đồ đệ của ngài, hoặc là lược bớt những lời dạy của Phật có liên quan đến những điều này hoặc chính Đức Phật cũng không nói ra vì ngài biết rằng khả năng có giới hạn của những đồ đệ lúc bấy giờ. Vậy có phải Đức Phật đã bước ra được thế giới ngoài kia và hấp thu những kiến thức vượt bậc về những định luật tạo nên thế giới này? Nhưng tại sao khi trở về ngài lại lựa chọn việc giảng về đạo chứ không phải dạy con người hiểu về thế giới và về những luật vật lý của thế giới này?

Community content is available under CC-BY-SA unless otherwise noted.